Bạn Đọc

Nhớ Thiếu tướng Trần Văn Giang

02/12/2016 14:16
Xem cỡ chữ     Gửi bài viết email     In bài viết

(TTTĐ) - Thiếu tướng Trần Văn Giang luôn là người rất gần gũi, cởi mở. Những lúc rảnh rỗi, ông thường chủ động xuống với lính. Và khi đã đến với anh em rồi thì không còn sự cách biệt giữa tướng và lính.

Thiếu tướng Trần Đăng Giang trực tiếp chỉ huy trận đánh máy bay B52

Thiếu tướng Trần Đăng Giang trực tiếp chỉ huy trận đánh máy bay B52

Khi tôi viết những dòng muộn mằn này thì Thiếu tướng Trần Văn Giang đã về với biển xanh, mây trắng. Ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 3/11 ở tuổi 93. Thiếu tướng Trần Văn Giang là một trong những nhân vật đặc biệt của lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cả cuộc đời ông gắn bó với trận mạc, với cuộc chiến đấu bảo vệ trời và biển Tổ quốc.

Ngay từ chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã là phó chính ủy kiêm chủ nhiệm chính trị Trung đoàn pháo cao xạ 367, trực tiếp chỉ huy trung đoàn, trút lưới lửa lên đầu giặc Pháp, cùng với quân và dân làm nên một Điện Biên “chấn động địa cầu”.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông là chính ủy Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội, trực tiếp chỉ huy 12 ngày đêm trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược bằng B52 của Mỹ, bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội.

Tháng 7/1974, Trần Văn Giang được bổ nhiệm làm Chuẩn Đô đốc kiêm chính ủy Bộ Tư lệnh Hải quân. Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cùng đơn vị chuẩn bị lực lượng giải phóng Trường Sa. Sau khi nghỉ hưu, Chuẩn Đô đốc Trần Văn Giang là một trong những người sáng lập Hội Cựu chiến binh TP.HCM. Ông còn là một nhà văn, nhà thơ, có nhiều tác phẩm được bạn đọc đặc biệt yêu mến.

Tôi biết ông từ cuối những năm 70 của... thế kỷ trước. Khi ấy, ông đang là Chuẩn Đô Đốc, Phó Tư Lệnh Chính trị, Bí Thư Đảng uỷ Quân chủng Hải Quân. Còn tôi là một người lính trẻ, vừa tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân, được điều động về làm Trợ lý Tuyên huấn ở Cục Chính trị Quân chủng. 

Cũng vì khoảng cách quá xa như thế nên thú thực hồi đó, tôi cũng thấy e ngại mỗi khi có việc gặp ông. Nhưng đối với Chuẩn Đô đốc Trần Văn Giang thì dường như lại chẳng có khoảng cách nào cả. Không phải chỉ với tôi, mà ngay cả với những người lính binh nhất, binh nhì ở các đơn vị cơ sở, Thiếu tướng Trần Văn Giang luôn là người rất gần gũi, cởi mở.

Nhớ Thiếu tướng Trần Văn Giang
Thiếu tướng Trần Văn Giang

Những lúc rảnh rỗi, ông thường chủ động xuống với lính. Và khi đã đến với anh em rồi thì không còn sự cách biệt giữa tướng và lính. Các chiến sĩ luôn thấy ông thực sự chân tình gần gũi như cha, như chú, như anh. Hơn thế, họ còn coi ông như một người bạn, một người đồng đội có thể sẻ chia mọi vui buồn, đắng ngọt.

Những năm gần đây, trong không khí "đổi mới tư duy", chúng ta đã quan tâm đến việc sử dụng người tài, lại sắp có chính sách đối với người hiền tài. Và như thế, chúng ta đã học được cha ông, thực sự coi hiền tài là nguyên khí quốc gia.

Rồi chúng ta còn đi xa hơn, nghĩ sâu hơn đến nỗi bi thảm của thân phận con người trong những hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử đất nước. Do chia cắt quá lâu, những gia đình sống trong sự kiểm soát của chế độ cũ có những nỗi bi kịch cực kỳ đau xót mà không dễ được chia xẻ.

Họ phải sống nơm nớp trong sự nghi ngờ của cả hai phía. Nói như nhà thơ Trần Nhuận Minh: "Ta thì ngờ theo địch? Địch lại bảo theo ta/ Thời nào cũng lận đận/Cũng không yên cửa nhà”. Và rồi anh em, con cái cũng chia năm xẻ bảy. Đứa là bộ đội Cách mạng. Đứa lại làm lính Cộng hoà.

Anh em ruột thịt mà rồi thành kẻ thù của nhau. Cả đến lúc chết cũng không "hoà hợp" được: “Hai đứa con chết trận/Chiến tranh ở hai đầu/ Ảnh thờ mờ sương khói/Vẫn không nhìn mặt nhau”. Còn có gì đau xót hơn thế?

Nhà báo lớn Hữu Thọ, cựu Uỷ viên Trung ương Đảng, cựu Tổng biên tập Báo Nhân Dân, Cựu Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương và Trợ lý Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, năm 2004 đã có một bài viết rất sâu sắc bàn về việc xoá bỏ mặc cảm hận thù.

Cứ như suy nghĩ của ông Hữu Thọ thì: "Đất nước đã hoà bình gần ba mươi năm rồi, muốn xoá bỏ mặc cảm hận thù thì xoá bỏ như thế nào đây? Bây giờ chúng ta có ngày thương binh liệt sĩ 27/7, nhưng anh em đi lính cho chế độ cũ, bị thương, nhưng họ là công dân, họ là người Việt Nam, mình phải xử sự với họ như thế nào?

Hay là chúng ta làm ngày rằm tháng 7 dành cho họ? Đây là nhà tình nghĩa, còn kia là nhà tình thương, cũng phải giúp đỡ cho anh em họ làm cái nhà chứ, cuộc sống của những người khuyết tật đâu có đơn giản”.

Rồi ông kể một chuyện có thật: Một bà mẹ ở Quảng Nam Đà Nẵng có bảy đứa con, ba đứa đi chiến đấu hy sinh, đúng tiêu chuẩn "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng". “Bốn đứa đi lính Cộng hoà cũng chết. Cuộc đời ba mươi năm nó giằng xé như vậy, và bà mẹ ấy để ảnh bảy đứa con ngang nhau trên bàn thờ để thờ.

 

Bà mẹ hoàn toàn đúng. Máu nào chả là máu. Con nào chả là con. Nhưng mà lúc này Đảng xử sự thế nào, mình xử sự không khéo thì được lòng người này nhưng mất lòng bao nhiêu đồng chí đã đổ máu hy sinh cho cuộc chiến đấu. Điều đó cực kỳ khó.

Có lẽ một vấn đề đơn giản có thể làm được ngay là đối với con cái họ không được kỳ thị. Đứa nào giỏi thì dùng. Đứa nào khó khăn thì giúp đỡ để dần dần xoá đi những mặc cảm thù hận. Đất nước ba mươi năm chiến tranh để lại cho chúng ta nhiều mặc cảm lắm. Nếu không xoá được cái này thì làm sao mà đại đoàn kết dân tộc được".

Những vấn đề đau xót và nhạy cảm ấy, nếu một người bình thường mà nghĩ được đến như thế cũng đã là quý lắm. Nhưng những suy nghĩ ấy lại có ở những người mang trọng trách, hoặc các đồng chí lãnh đạo cấp cao thì thật may mắn cho dân, có thể xem như là hồng phúc cho dân.

Những vấn đề ấy, bây giờ chúng ta mới bàn, nhưng Chuẩn Đô đốc Trần Văn Giang đã làm việc đó rồi. Mà ông làm sớm lắm, làm cách đây gần bốn mươi năm kia, khi còn chưa có công cuộc đổi mới. Phải nói ông có tầm nhìn và cách nghĩ khá mới mẻ và sâu sắc của một nhà quản lý.

Tôi nhớ vào cuối những năm 70, đầu những năm 80, ở Ban Tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải Quân có một người lính trẻ. Anh đặc biệt có tài, có năng lực chỉ huy chiến đấu trên biển, nhưng lý lịch lại "có vấn đề". Bố anh nghe đâu đã từng làm việc cho Pháp. Vậy thì có thể kết nạp anh vào Đảng được không? Địa phương thì phản đối dữ dội.

Cũng chính vì thế mà người lính ấy đã lăn lóc qua nhiều đơn vị, là đối tượng cảm tình Đảng lâu năm, nhưng chẳng ai nghĩ đến việc kết nạp anh vào Đảng. Thời ấy, không phải Đảng viên thì không thể đưa anh vào độ ngũ sĩ quan được. Và như thế, người lính ấy sẽ phải loại khỏi quân ngũ. Điều ấy thật đáng tiếc. Quyết định số phận anh chỉ là việc của một chi bộ cơ sở.

Chuẩn Đô đốc, Bí thư Đảng uỷ quân chủng Trần Văn Giang băn khoăn lắm. Ông tìm đến người lính trẻ ấy, rồi ông bàn với đồng chí Bí thư chi bộ, các đồng chí Thủ trưởng Bộ Tham mưu, phải có cách nào "cứu" được người lính ấy. Không thể lãng phí! Bởi đó là một tài năng.

Nhớ Thiếu tướng Trần Văn Giang
Chuẩn đô đốc Trần Văn Giang (thứ hai từ trái) trao đổi kinh nghiệm với chuyên gia Liên Xô

Người tài thời nào cũng quý hiếm. Những người tài mà tốt ở trong Đảng thì chỉ tăng uy tín cho Đảng, làm cho Đảng hùng mạnh. Ông chỉ thị cho Bộ Tham mưu phải "gỡ" cho được trường hợp đặc biệt này.

Qua bao lần xác minh, mới hay bố người lính ấy là du kích, được Đảng bộ cơ sở cài cắm vào hoạt động trong hàng ngũ địch. Cũng bởi công việc đặc biệt nên chỉ có người chỉ huy cao nhất biết sự thật. Còn dân chúng bình thường thì chỉ đinh ninh ông du kích ấy đã theo Tây.

Có lần, ông về làng gặp cấp chỉ huy để báo cáo tình hình và cung cấp tài liệu thì bị dân quân phục kích. Mìn nổ, nhưng ông may mà thoát hiểm. Ông nghĩ hình như mình đã bị lừa rồi. Và thế là ông sợ. Sợ cả ta, sợ cả địch. Ông ở lỳ trong bốt địch, không về làng, cũng không chuyển tài liệu ra ngoài nữa. Đứt liên lạc đến sáu tháng.

Tất cả chỉ có thế. Sau này, khi cải cách ruộng đất, ông bị đấu tố, bị liệt vào hạng người có nợ máu. Nhưng "nợ" ai? Ông đánh đập ai, chém giết ai? Con người  đâu phải vỏ hến ở bãi hoang mà có thể giấu giếm hay phi tang được. Hoá ra chẳng có chuyện gì ghê gớm cả.

Người lính trẻ ấy đã được đưa vào hàng ngũ sĩ quan và hiện nay, anh đã là một sĩ quan cao cấp trong quân đội. Có lần, anh bảo tôi: "Nếu không có bác Giang thì không biết bây giờ mình trôi dạt về đâu? Chắc bác Giang cũng chẳng còn nhớ mình đâu. Vì trong đời, bác ấy đã từng "cứu" bao nhiêu người như mình, nên làm sao mà nhớ được.

Còn mình thì không bao giờ quên. Cả dòng tộc mình cũng không quên. Sau này, trên bàn thờ nhà mình, ngoài bát hương thờ ông bà, bố mẹ, tiên tổ, mình sẽ có một bát hương rất đặc biệt. Bát hương thờ bác Giang". Thật hiếm có một ông tướng nào, một vị cán bộ nào lại được dân tin yêu như thế…

Trần Đăng  Khoa

Tags:

Gửi bình luận close

Vui lòng nhập thông tin của bạn

Địa chỉ Email không hợp lệ

Họ tên không hợp lệ

Hoàn tất

Thông báo close

Bạn chưa nhập nội dung bình luận

Đóng
Gửi bình luận close

Gửi ý kiến thành công. Cám ơn bạn

Đóng
Ý kiến của bạn
Tin cũ hơn